-
Thiên Phong đã đăng bài trong nhóm
một năm trước
Ngược Dòng // Lịch Sử Xuân thu Chiến quốc (83) Tín Lăng Quân đánh bại quân Tần, giải cứu nước Triệu
Khoảng những năm 257 TCN. Tần và Triệu liên tục xảy ra đại chiến, đôi bên dốc cạn binh lực quốc gia. Sau khi Bạch Khởi tàn sát 40 vạn lính Triệu, thì nước Triệu không còn đại quân chủ lực nữa. Nước Tần dẫn binh chiếm đánh, dần dần đã bao vây được đô thành Hàm Đan của Triệu. Người nước Triệu căng mình chống đỡ, cố gắng giữ vững phòng tuyến cuối cùng.
Tần vương tiếp tục tăng binh để tấn công Hàm Đan. Triệu vương vô cùng lo sợ, ông phái sứ giả cầu cứu các chư hầu. Chú của Triệu vương là Bình Nguyên Quân đi sứ đến Sở, Mao Toại tự tiến cử và đã thuyết phục được Sở vương đồng ý thiết lập liên minh hợp tung. Thế là Sở vương phái Xuân Thân Quân Hoàng Hiết lãnh 8 vạn sĩ tốt đến cứu Triệu, đồng thời Nguỵ vương cũng lệnh cho Tướng quân Tấn Bỉ đem 10 vạn quân tiến về Hàm Đan. Vậy thì liên quân chư hầu có thắng được quân Tần không?
Kỳ thực liên quân chư hầu căn bản không phát sinh bất cứ trận chiến nào với quân Tần. Bởi vì khi đó Tần vương nghe nói quân cứu viện của chư hầu sắp đến, ông mới đến Hàm Đan thị sát và hạ một mệnh lệnh: “Hiện tại quả nhân tấn công Hàm Đan, trong sớm tối sẽ hạ được Hàm Đan. Nếu có chư hầu nào muốn cứu viện, quả nhân sẽ hướng binh tấn công nước đó, ai muốn cứu Hàm Đan, ta sẽ tấn công kẻ ấy”.
Thế là Xuân Thân Quân Hoàng Hiết dẫn 8 vạn quân Sở tới vùng Vũ Quan, đóng quân ở đó mà không dám tiến tiếp nữa.
Ngụy An Hy Vương nghe Tần vương nói cứng rắn như vậy, lập tức phái người đuổi theo quân Tấn Bỉ. Thế là tướng Tấn Bỉ mang 10 vạn đại quân đóng tại Nghiệp Thành, kề sát với Hà Nam. Quân của Tấn Bỉ cũng không tiến tiếp nữa.
Cho nên nước Triệu sa vào cảnh ngộ nan giải: một nước cô độc, phải đối chọi với nước Tần hùng mạnh, thế mà chư hầu lại không dám cứu. Thời đó các nước đều có liên hôn, tức là trong hoàng tộc các nước cũng có liên hệ thân thích với nhau. Nhưng cuối cùng thì chư hầu cũng không dám cứu nước Triệu.
Khi nước Tần tấn công nước Triệu, hình thế nước Triệu có rất nhiều nguy hiểm, lão bách tính phải trao đổi con cái để ăn, không có rơm củi thì dùng xương người để đốt. Vậy nên đã xuất hiện câu thành ngữ là “Dịch tử xuy cốt nhi thực”. Từng câu thành ngữ đều là đúc kết tinh túy và xương máu của cổ nhân. Tình cảnh bấy giờ vô cùng thê thảm.
Có một người tên là Lý Đồng đi bái kiến Bình Nguyên Quân Triệu Thắng. Lý Đồng nói: “Công tử, hiện tại nước Triệu đã nguy hiểm như thế này, lão bách tính đều ‘trao đổi con để ăn, dùng xương người để đốt’, nhưng ngài xem trong gia đình ngài, mỹ nhân trên trăm người, y phục mặc toàn là gấm lụa, ăn cơm với thịt, nhưng bách tính thì ngay cả quần áo vải thô cũng không có mà mặc, ngay cả thịt cũng không có mà ăn, nước Triệu như thế liệu có giữ được không? Trên dưới không đồng lòng! Tôi kiến nghị ngài hãy lấy tiền trong nhà, lương thực có trong kho, hãy lấy ra phân phát cho quân đội, như thế quân đội mới có thể phục vụ quên mình”.
Thế là Bình Nguyên Quân Triệu Thắng lấy hết tất cả tiền tài trong nhà phân phát hết, tất cả mọi người từ phu nhân của ông trở xuống đều biên chế vào quân đội, cho đi may áo hoặc đi tu sửa thành trì, dù thế nào cũng phải giúp đỡ việc phòng thủ. Ông đã rất nhanh thu phục được lòng dân.
Triệu Thắng lại chiêu mộ ba nghìn binh sĩ cảm tử, lúc nửa đêm từ trên thành đu dây xuống, sau đó tập kích đại doanh nước Tần. Người dẫn đầu chính là Lý Đồng.
Nước Tần đánh Hàm Đan xưa nay chưa gặp tình huống như vậy, đang ngủ lúc nửa đêm đột nhiên bị mấy ngàn lính cảm tử tấn công đại doanh. Những binh lính này đúng là không sợ chết, liều mạng tử chiến đến người cuối cùng.
Ngay lập tức quân Tần bị làm cho sợ khiếp, đành rút lui 10 dặm. Ba ngàn lính cảm tử toàn bộ đều tử trận, người dẫn đầu Lý Đồng trọng thương rồi qua đời.
Phương thức tấn công cảm tử đó chỉ có thể bẻ gãy một chút sĩ khí của quân Tần, về cơ bản không thể giải quyết được mối nguy hiểm của thành Hàm Đan, cũng không thể khiến quân Tần lui binh. Quân Tần nghỉ ngơi vào ban đêm, còn ban ngày thì liên tục công thành. Tường thành Hàm Đan run rẩy, nước Triệu nguy trong sớm tối.
Dưới tình huống nguy nan như thế, Bình Nguyên Quân Triệu Thắng đã viết một phong thư cho Tín Lăng Quân Ngụy Vô Kỵ. Nguỵ Vô Kỵ là anh em cùng cha khác mẹ với Nguỵ vương. Bình Nguyên Quân cưới chị gái của Tín Lăng Quân.
Trong thư viết thế này: “Khi đó ta sở dĩ quyết định ký kết quan hệ hôn ước với ngài, là bởi vì công tử có nghĩa khí cao độ, khi đó chúng tôi gặp nguy, công tử đã cứu viện chúng tôi. Hiện tại, nước Triệu sắp tiêu vong, nhưng công tử lại nhìn mà không quản. Ông không thương tiếc nước Triệu, nhưng lẽ nào ông không thương tiếc chị gái của mình sao?”.
Tín Lăng Quân sau khi nhận thư, ông tìm cách thuyết phục Ngụy vương xuất binh cứu Triệu. Khi đó quân đội nước Ngụy đóng tại Nghiệp Thành, tiến thêm chút nữa là đến lãnh thổ nước Triệu. Nhưng Ngụy vương không nghe. Tín Lăng Quân bèn gọi các môn khách lại, cùng nghĩ biện pháp thuyết phục Ngụy vương, nhưng Ngụy vương kiên quyết không đáp ứng. Cuối cùng, Ngụy Vô Kỵ quyết định đem những môn khách của mình đến tiền tuyến, quyết trận sống mái với quân Tần.
Khi đó ông mang theo hơn 100 cỗ xe. Lúc ra khỏi cổng phía đông nước Ngụy, người gác cổng khi đó là Hầu Sinh, Tín Lăng Quân nói với Hầu Sinh: “Ta hiện tại muốn đến tiền tuyến, sẽ liều mình với quân Tần”. Hầu Sinh nói: “Công tử nếu ép tôi, lão già này cũng không thể phục tùng”.
Ý tứ là nói, ngài muốn liều chết thì ngài cứ đi, tôi đã già rồi, không thể đi cùng ngài.
Sau khi cáo biệt Hầu Sinh, Tín Lăng Quân lên đường. Đi được một đoạn, Tín Lăng Quân càng nghĩ, trong tâm càng thấy khó hiểu, bởi vì ông đối xử với Hầu Sinh vô cùng khách khí, hơn nữa lại lễ độ chu toàn, người khác nhìn vào sẽ cảm thấy có chút quá phận.
Bao nhiêu năm nay, với sự tôn trọng như thế, nhưng khi bản thân ông sắp lâm vào chỗ chết, Hầu Sinh không nói một câu đồng tình, cũng không muốn giúp đỡ… Đối với Tín Lăng Quân, đây là một việc rất kỳ lạ.
Tín Lăng Quân nghĩ: “Không lẽ ta đối xử với Hầu Sinh không đủ lễ mạo chu toàn chăng?”. Thế là ông bảo thủ hạ dừng lại, sau đó ông một mình trở lại để gặp Hầu Sinh.
Hầu Sinh khi đó ở cổng phía đông đô thành Đại Lương của nước Ngụy. Ở cổng phía đông, Hầu Sinh đang chờ Tín Lăng Quân quay lại. Ông thấy công tử quay lại bèn cười nói: “Tôi biết ngài sẽ quay lại mà”.
Ông nói rằng: “Bởi vì người như ngài thích kết giao với nhân sĩ, cái danh này đã uy chấn thiên hạ, hơn nữa ngài đối xử với lão già này tốt như thế, mọi người đều đã biết. Hiện tại ngài dẫn môn khách đi liều mạng với nước Tần, thì giống như một miếng thịt ném vào chuồng hổ đói, căn bản không thể thu hồi lại.
Cách làm này của ngài vô cùng mạo hiểm, cũng không có gì hiệu quả. Ngài vì sao không nghĩ một chút, liệu có kế sách hiệu quả hơn không?”.
Tín Lăng Quân nghe xong liền biết Hầu Sinh có biện pháp. Ông hỏi Hầu Sinh: “Tiên sinh có thể chỉ giáo cho tôi không?”.
Hầu Sinh nói với Tín Lăng Quân: “Nếu ngài muốn điều động quân đội nước Ngụy, ngài ắt phải có binh phù. Binh phù đang ở trong phòng ngủ của Ngụy vương. Vậy ai có thể vào phòng ngủ của Ngụy vương, chính là mỹ nữ mà Ngụy vương sủng ái tên là Như Cơ. Như Cơ có thế lấy được binh phù.
Bởi vì công tử từng có ân với Như Cơ. Khi đó phụ thân của Như Cơ bị người khác giết hại, Như Cơ nghĩ kế muốn thay cha báo thù, cô đi khắp nơi cầu cứu, nhưng không có ai giúp. Cuối cùng người giúp cô ấy báo được thù chính là Tín Lăng Quân ngài đây.
Nếu công tử có thể đi cầu cứu Như Cơ, cô ấy nhất định sẽ đáp ứng, sẽ lấy binh phù giao cho ngài. Khi đó ngài có thể lại ra tiền tuyến, ngài có thể điều động 10 vạn quân Ngụy, như vậy so với một trăm cỗ xe với một trăm tân khách, chẳng phải hiệu quả hơn nhiều sao?”.
Tín Lăng Quân Vô Kỵ như vừa tỉnh mộng, đây quả là kế hay, ông bèn đi cầu cứu Như Cơ. Như Cơ vì để báo đáp ân nhân, nàng đã liều chết để lấy trộm binh phù, rồi giao cho Tín Lăng Quân Ngụy Vô Kỵ. Nguỵ Vô Kỵ nói với Hầu Sinh: “Ta đem binh phù tới tiền tuyến đây”. Hầu Sinh nói: “Tôi có một hảo bằng hữu, chính là Chu Hợi, là người làm nghề đồ tể mà tôi từng nói trước đây”.
“Chu Hợi là một dũng sĩ, ngài nên mang Chu Hợi đi cùng. Tuy ngài có mang binh phù đến tiền tuyến, nhưng một người đem binh phù đến rồi truyền đạt mệnh lệnh của Ngụy vương, Tấn Bỉ không nhất định tin tưởng.
Nếu ông ấy không tin tưởng, ông ta lại phái người đến chỗ Nguỵ vương để thẩm tra, thế thì công tử gặp nguy hiểm rồi. Vì thế chỉ có cách duy nhất là, nếu Tấn Bỉ không tin, không muốn giao binh quyền, thế thì lập tức giết đi. Ai có thể làm được? Chính là Chu Hợi, bởi ông ta là một lực sĩ. Cho nên ngài hãy mang Chu Hợi đi cùng”.
Tín Lăng Quân nghe xong thì rơi nước mắt. Hầu Sinh nói: “Công tử vì sao phải khóc, lẽ nào ngài sợ chết sao?”.
Ngụy Vô Kỵ nói: “Tấn Bỉ là một lão tướng, làm việc vô cùng cẩn thận. Ta nếu nói với ông ta, cho dù là ta có binh phù đi nữa, ông ấy nhất định sẽ không tin ta, cho nên ông ấy sẽ phải chết…”.
Nhưng Nguỵ Vô Kỵ vẫn muốn cứu Triệu, ông bèn đi tìm Chu Hợi. Chu Hợi sau khi thấy công tử, ông cười rồi nói với công tử rằng: “Ngài trong bao nhiêu năm nay, đã nhiều lần đến thăm hỏi tôi, nhưng xưa nay tôi chưa từng hồi đáp, cũng chưa tặng ngài cái gì, cũng chưa từng nói lời ca ngợi ngài.
Vì sao vậy? Bởi vì tôi thấy đó là tiểu lễ, mà tiểu lễ thì không có tác dụng gì. Hôm nay ngài đến tìm tôi, vậy thì đã đến lúc tôi phải bán cái mệnh này. Cái thân có chỗ dùng này, hôm nay sẽ là của công tử”. Thế là Chu Hợi đi theo Nguỵ Vô Kỵ vào trong quân.
Sau khi đến tiền tuyến, Ngụy Vô Kỵ ‘truyền đạt mệnh lệnh của Nguỵ vương’ (thực ra là mệnh lệnh giả), ông bảo Tấn Bỉ đem quân đội giao cho Tín Lăng Quân.
Nhưng Tấn Bỉ nói: “Nguỵ vương trước nay truyền cho ta nhiều mệnh lệnh như thế, không thể hành động khinh suất. Đột nhiên công tử đến, mà không có một phong thư nào, mà chỉ đem binh phù đến, ta phải kiểm chứng việc này”.
Khi đó, Chu Hợi ở bên cạnh gầm lên một tiếng: “Lệnh quốc vương mà không nghe, ngươi muốn tạo phản sao?”.
Tấn Bỉ hỏi: “Ngươi là ai?”.
Lúc này, Chu Hợi lấy một cột nặng 40 cân, đánh vào đầu Tấn Bỉ, Tấn Bỉ tử vong ngay lập tức.
Sau này, đại thi hào Lý Bạch đã viết bài thơ “Hiệp khách hành” trong đó có hai câu là:
Cứu Triệu huy kim chùy
Hàm Đan tiên chấn kinhCó nghĩ là:
Chùy cứu Triệu vung tay khảng khái,
Thành Hàm Đan run rẩy, kinh hoàngSau khi tướng Tấn Bỉ qua đời, Tín Lăng Quân truyền lệnh trong quân rằng: “Chúng ta hiện tại có 10 vạn binh mã, nếu cha và con trai đều ở trong quân thì cha được về, nếu anh trai và em trai đều ở trong quân thì anh trai được về, nếu ai là con một trong nhà thì người đó có thể trở về với phụ mẫu. Những người còn lại đều không có ‘nỗi lo sau này’, vậy thì chúng ta còn lại 8 vạn tinh binh”.
Sau đó, Tín Lăng Quân xuất quân tấn công nước Tần từ phía sau. Nước Tần không ngờ quân Nguỵ lại đột nhiên động thủ. Đại quân nước Tần bị động, không có bất kỳ sự chuẩn bị nào, kết quả bị thua không còn manh giáp. Thành Hàm Đan được giải vây.
Khi giải vây thành Hàm Đan, có một tướng nước Tần tên là Trịnh An Bình, đây chính là người đã từng cứu Phạm Thư, hai vạn quân của ông ta ở trước cửa thành Hàm Đan bị đại quân nước Ngụy vây khốn, Trịnh An Bình đầu hàng.
Tín Lăng Quân khi ở thành Hàm Đan, cảm thấy mình đã làm một việc rất xuất sắc, đã cứu vớt được cả một quốc gia, ông có chút hiên ngang ngạo nghễ. Khi đó, có một môn khách nói với Tín Lăng Quân rằng: “Có một vài sự tình mà công tử không thể quên; lại có một vài sự việc mà công tử không thể nhớ. Người khác có ân với chúng ta, chúng ta không thể quên. Nếu chúng ta có ân với người khác, chúng ta phải quên càng nhanh càng tốt. Công tử hôm nay tuy đã cứu được bách tính nước Triệu, đối với nước Triệu là có công, nhưng đối với nước Nguỵ là có tội.
Bởi vì ngài đã trộm binh phù của Nguỵ vương, đã dùng chùy sắt đánh chết lão tướng nước Nguỵ, cho nên công tử không thể cho rằng mình thật xuất sắc”.
Thế là công tử Nguỵ Vô Kỵ lúc tiến vào cung điện nước Triệu, ông tỏ ra rất kính cẩn, không nghênh ngang nữa. Người xưa tin rằng, nếu đi ở phía tây bậc thềm là biểu thị tôn kính, nếu đi ở phía đông bậc thềm là biểu thị khiêm tốn. Triệu vương để Ngụy Vô Kỵ đi ở bậc thềm phía tây, nhưng công tử từ chối, để đi bậc thềm phía đông.
Tín Lăng Quân rất khiêm hạ, ông nói: “Thần là người có tội, thần có lỗi với nước Ngụy, thần hầu như không giúp gì nước Triệu cả”.
Tín Lăng Quân biết rằng lấy trộm binh phù quốc gia là có tội, do đó ông không dám trở về Nguỵ mà ở lại nước Triệu. Câu chuyện Tín Lăng Quân trộm binh phù cứu nước Triệu xảy ra năm 257 TCN, đây là lần đầu tiên Tín Lăng Quân đánh bại quân Tần.
10 năm sau đó. Là năm 247 TCN, quân Tần bao vây đô thành Đại Lương của nước Ngụy, Ngụy Vô Kỵ đem quân trở về và lại đánh bại quân Tần lần thứ 2.
Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.