• Đăng ký
  • Đăng Nhập
  • Blog
  • Groups
  • Forums
    Đăng nhập Đăng ký
    • Đăng ký
    • Đăng Nhập
    • Blog
    • Groups
    • Forums
      • Ảnh đại diện
        Ảnh đại diện của Thiên Phong
        Ngược Dòng // Lịch Sử

        Thiên Phong đã đăng bài trong nhóm Logo nhóm của Ngược Dòng // Lịch SửNgược Dòng // Lịch Sử

        một năm trước

        Xuân thu Chiến quốc (74) Truyền Kỳ Lạn Tương Như: Anh tài của Triệu quốc

        Triệu Huệ Văn Vương có được Hoà thị bích, đây là một khối ngọc đẹp, rất lớn. Tần Chiêu Tương Vương viết một phong thư cho Triệu vương, thương lượng rằng: “Quả nhân nghe nói ngài có một viên ngọc đẹp, vô cùng quý báu, ta nguyện ý đem 15 tòa thành làm giá trị trao đổi viên ngọc”.

        Khi đó, Triệu vương không biết là chuyện tốt hay xấu, có nên đưa hay không? Thế là Triệu vương thương lượng với đại thần. Mọi người đều không có chủ ý.

        Thủ hạ của Triệu Huệ Văn Vương là một hoạn quan tên Mậu Hiền, ông đã nói với Triệu vương rằng: “Hạ nhân tiến cử cho ngài một người, ngài thương lượng với ông ấy thử xem, nói không chừng sẽ có chủ ý”. Hoạn quan tiến cử một người là Lạn Tương Như. Lạn Tương Như là một người rất hiểu chính trị, đồng thời cũng rất hiểu tâm lý con người.

        Mậu Hiền kể cho Triệu vương một câu chuyện: “Lạn Tương Như là môn khách của hạ quan, có một lần thần đã đắc tội với đại vương, thần muốn chạy đến nước Yên. Lạn Tương Như hỏi thần: ‘Ông có hiểu quốc vương nước Yên không? Để tôi phân tích cho’.

        Thần nói: Có một lần quân vương nước Triệu và quân vương nước Yên đang đàm phán ngoại giao, trong yến tiệc, Yên vương lén lút nắm lấy tay thần và nói: ‘Hy vọng có thể kết giao bằng hữu với ông’.

        Lạn Tương Như nói: ‘Điều Yên vương coi trọng không phải là ông, mà là vị trí của ông. Khi đó tại sao Yên vương lại nắm tay ông? Bởi vì ông là đại thần được Triệu vương sủng ái, mà Triệu thì mạnh, Yên thì yếu, Yên vương hy vọng mượn ông để giao hảo với nước Triệu’. Nếu ông đắc tội Triệu vương mà chạy đến nước Yên, Yên vương lập tức sẽ bắt ông lại giao cho Triệu vương để tỏ thịnh tình muốn giao hảo, làm sao Yên vương có thể che chở cho ông được’.

        Lạn Tương Như nói thêm: ‘Chuyện ông phạm là chuyện rất nhỏ, ông chỉ cần thành tâm thành ý đến nhận tội với đại vương, Triệu vương sẽ không quá trách tội ông đâu’.

        Thần nghe lời Lạn Tương Như, bèn cởi y phục của mình rồi nằm trên thớt, biểu thị thần đáng chết. Quả nhiên Triệu vương ngài đã tha tội chết cho thần. Cho nên thần tiến cử Lạn Tương Như cho đại vương”.

        Triệu vương nhanh chóng triệu kiến Lạn Tương Như rồi hỏi: “Theo ngươi, bảo ngọc có nên đưa cho nước Tần được không?”.

        Lạn Tương Như không phân tích lợi hại, mà ông phân tích chuyện đúng sai. Ông nói: “Nếu nước Tần bỏ ra một cái giá lớn như vậy để trao đổi, chúng ta nếu không giao, thế thì nước Triệu sẽ đuối lý. Nếu chúng ta trao đổi, mà nước Tần không giao nộp thành thì nước Tần đuối lý. Hiện tại tình hình quân sự nước Triệu yếu thế hơn nước Tần, chúng ta không thể bị thiệt thòi về mặt đạo đức nữa. Do đó cách nghĩ của thần là nên giao ngọc cho nước Tần”.

        Triệu Hà do dự hỏi: “Nếu họ không giao thành cho nước ta thì sao?”.

        Lạn Tương Như đáp lại bằng một câu rất nổi tiếng: “Thành nhập vào Triệu, thì ngọc ở lại Tần. Nếu thành không nhập Triệu, thần sẽ ‘hoàn bích quy Triệu’ (sẽ đem ngọc về nước Triệu)”. Thành ngữ “Hoàn bích quy Triệu” chính từ đây mà ra.

        Thực ra đây là một khối ngọc lớn. Sau này khi nước Tần thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng đã đúc khói ngọc này thành ngọc tỷ truyền quốc.

        Lạn Tương Như đem bảo ngọc đến nước Tần. Ở trên điện, Tần Chiêu Tương Vương rất đắc ý, lấy ngọc bích đem lại chỗ mình. Xem xong ông lại đưa cho các đại thần xem, rồi lại đưa cho cung tần mỹ nữ xem, nhưng không hề đề cập đến chuyện giao ra 15 toà thành.

        Lạn Tương Như hiểu ngay vấn đề, biết rằng Tần vương đang muốn lật lọng. Thế là ông nói với Tần vương: “Ngọc này có tì vết, để tôi chỉ ngài xem”. Tần vương nghe vậy, lập tức đưa bảo ngọc cho Lạn Tương Như.

        Lạn Tương Như sau khi lấy được bảo ngọc bèn bắt đầu lùi, ông lùi lại bên một cái cột, rồi lưng dựa vào cột để phòng người nào đó cướp.

        Ông cầm lấy bảo ngọc, sau đó nói với Tần vương rằng: “Khi tôi đưa ngài ngọc quý, rất nhiều người hoài nghi liệu Tần có giao thành cho nước Triệu chúng tôi không. Nhưng tôi cho rằng, phường áo vải chơi với nhau thường không lừa nhau, huống chi Tần vương là quân chủ một nước lớn như thế, nếu ngài làm vậy chính là sỉ nhục nước Tần, vì nước Tần không giữ chữ tín.

        Tôi đã đưa bảo ngọc cho ngài, không ngờ đại vương sau khi cầm được, không những đưa cho đại thần xem, còn truyền tay cho cung tần mỹ nữ xem. Tôi thấy ngài vốn dĩ không nguyện ý đưa 15 thành giao cho nước Triệu chúng tôi. Nếu ngài bức tôi, hôm nay đầu tôi và ngọc sẽ cùng nát tại cái cột này”. Sau đó Lạn Tương Như làm bộ dạng như muốn đập bảo ngọc vào tường.

        Tần vương rất lo lắng bèn nói: “Đừng đập, chẳng phải ngươi muốn 15 tòa thành sao?”. Tần vương gọi quan đem bản đồ đến, rồi chỉ vào thành này, thành này, tổng cộng 15 thành, nói là cắt cho nước Triệu.

        Việc cắt đất là một đại sự, vốn phải cử hành đại lễ, với giao ước rõ ràng. Thế nhưng Tần vương cứ chỉ tay, bảo là cho nước Triệu 15 tòa thành. Rõ ràng ông này lại muốn lật lọng.

        Lạn Tương Như thấy vậy, biết rằng Tần vương không hề có thành ý, nên ông lại nói thêm: Trước khi tôi đến nước Tần, Triệu vương rất coi trọng việc này. Một hoạt động ngoại giao trọng đại như thế, cho nên Triệu vương khi đó đã tắm gội trai giới năm ngày. Sau đó, Triệu vương cung kính viết quốc thư rồi bảo tôi đem ngọc đến nước Tần. Nếu đại vương muốn có được thứ trân quý như vậy, thỉnh mong ngài cũng trai giới năm ngày, sau đó thiết lập Lễ Cửu tân – lễ tiết ngoại giao long trọng nhất – để nghênh tiếp ngọc quý, rồi tôi mới có thể giao bảo ngọc cho ngài.

        Tần vương thấy ngọc vẫn còn trong tay Lạn Tương Như nên không có cách nào khác, chỉ đành đồng ý. Lạn Tương Như bèn quay lại dịch quán và dự tính dùng thời gian năm ngày để lén đưa ngọc quý về nước Triệu.

        Khi về tới dịch quán, Lạn Tương Như bèn ngay lập tức bảo một thủ hạ mặc y phục thô lậu xấu xí, giả trang thành bộ dạng nghèo khổ, sau đó buộc ngọc quý vào người, từ con đường nhỏ len lén chạy về nước Triệu.

        Năm ngày sau, Tần vương đã thiết đặt Lễ Cửu tân long trọng, chuẩn bị nghênh đón bảo ngọc, sau đó truyền Lạn Tương Như đến. Lúc Lạn Tương Như tiến vào, ông đi với tâm thế hiên ngang, hai tay trống không. Tần vương hỏi ngọc ở đâu? Lạn Tương Như nói đã đưa ngọc về nước Triệu rồi. Tần vương khi này đại nộ…

        Lạn Tương Như nói: “Nước Tần từ thời Tần Mục Công đến nay đã trải qua hai mươi mấy đời quân vương, không có quân vương nào mà không lừa gạt cả. Nào là Trương Nghi lừa Sở, Thương Ưởng lừa Nguỵ, Mạnh Minh lừa Tấn… quốc vương nước Tần từ xưa đến nay, trải hai mươi mấy đời quân vương, chưa bao giờ giữ tín nghĩa, cho nên tôi vô cùng sợ hãi. Hễ bảo ngọc vào tay ngài, đại vương không giao thành cho chúng tôi thì làm thế nào?

        Hiện tại trong thiên hạ Tần mạnh mà Triệu yếu. Nếu ngài cắt 15 thành trì cho nước Triệu, nước Triệu không dám không giao ngọc. Vậy nên tôi kiến nghị, ngài trước tiên đưa thành cho nước Triệu, sau đó nước Triệu sẽ đưa ngọc giao cho ngài”.

        Tần vương rất tức giận, đại thần bên dưới cũng rất tức giận. Mọi ánh mắt đều dồn vào Lạn Tương Như. Nhưng Lạn Tương Như nói: “Tôi biết, lừa đại vương là phạm vào tội chết, nên xin đại vương hãy bày vạc dầu lớn để tôi có thể nhảy vào vạc dầu sôi”.

        Tần vương thấy Lạn Tương Như không sợ, hơn nữa lời nói còn khẳng khái hiên ngang, giống như đang chiếm đạo lý.

        Tần vương nói: “Được rồi được rồi, dù có giết nhà ngươi, ngọc cũng không về nước Tần được nữa, cho nên người hãy về đi”. Sau đó, Tần vương còn dùng lễ trang trọng để tiễn Lạn Tương Như về Triệu.

        Điều này cho thấy rằng, Tần Chiêu Tương vương cũng là người rất có khí độ. Ông không lạm sát vô cớ. Dẫu bị Lạn Tương Như làm cho rất giận, nhưng cuối cùng vẫn bỏ qua, mà còn dùng lễ trang trọng để tiễn Lạn Tương Như về nước. Đây chính là khí độ của bậc quân vương.

        Lạn Tương Như trên điện đường nước Tần mà đấu trí đấu dũng, dùng ‘sức mạnh’ ba tấc lưỡi để thuyết phục Tần vương, kết quả ông được thả về nước Triệu. Sau đó nước Triệu cũng không đưa Ngọc cho nước Tần, mà nước Tần cũng không nói gì đến việc trao đổi 15 thành trì nữa.

        Nhưng sau đó, nước Triệu gặp phải sự trả thù từ nước Tần. Chỉ một năm sau đó, nước Tần đã công chiếm hai tòa thành của Triệu. Năm 281 TCN, nước Tần lại chiếm lĩnh được Thạch Thành của nước Triệu (nay thuộc huyện Lâm tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Sau đó đến năm 280 TCN, Tần lại tiếp tục tấn công nước Triệu, chém giết 3 vạn thủ cấp.

        Triệu Huệ Văn vương không có cái tài quân sự như cha của mình. Ông kế vị thì đã được hưởng thái bình do người cha chinh chiến cả đời mà có được. Vậy nên lần này dưới những đợt tấn công của Tần, nước Triệu dần yếu thế.

        Năm 279 TCN, Tần vương lại có một kế hoạch vô cùng to lớn, chính là tiến công nước Sở. Khi đó nước Sở đã trở nên yếu nhược.

        Nhưng nước Sở ở phía Nam, còn nước Triệu ở phía Bắc. Nếu tấn công nước Sở, rất có khả năng sẽ bị nước Triệu tấn công. Khi ấy nước Tần rất mạnh, nhưng sẽ không trụ được trước 2 mũi giáp công này.

        Để có thể thuận lợi đánh Sở, Tần vương buộc phải tạo mối quan hệ ngoại giao tốt với nước Triệu. Mặc dù mới đánh nhau, nhưng bây giờ phải làm hòa. Tần vương viết một phong thư hẹn Triệu vương đến Miễn Trì tương hội để cùng đàm luận về hiệp ước hòa bình.

        Sau khi phong thư đến nước Triệu, Triệu Huệ Văn Vương không dám khinh suất mà đi. Bởi vì trước Miễn Trì hội, Sở Hoài Vương đã từng bị lừa đến nước Tần, sau đó bị giam lỏng rồi qua đời ở đất Tần.

        Nhưng thủ hạ của Triệu vương là đại tướng quân Liêm Pha và Lạn Tương Như, hai người họ lại bảo Triệu vương đến hội, không thể tỏ ra yếu nhược được.

        Triệu Hà bèn nghe kiến nghị của hai vị đại thần, ông chuẩn bị đi đến Miễn Trì để gặp Tần vương. Trước khi xuất phát, Liêm Pha đã thực hiện một ước định với Triệu Huệ Văn Vương, ông nói: “Thần ước đoán từ đây đến Miễn Trì, sau khi cử hành hoạt động ngoại giao rồi về lại Triệu, sẽ tầm khoảng trên dưới 30 ngày. Nếu trong vòng 30 ngày mà ngài có thể về là tốt nhất. Nếu ngài không về đúng hẹn và bị họ ‘giữ’ lại, thế thì thần thỉnh cầu ngài cho phép thần lập Thái tử lên kế vị, kế thừa ngai vàng của nước Triệu. Như thế nước Tần sẽ không có cách nào uy hiếp được nước Triệu.

        Triệu vương đã đồng ý.

        Khi Triệu vương đến Miễn Trì tụ hội, khi đó không khí và thời tiết rất tốt. Tần vương gặp mặt Triệu vương, họ cùng các quan uống rượu rất vui vẻ. Tần vương nói với Triệu vương rằng: “Ta nghe nói ông rất giỏi âm nhạc của nước Triệu, rất tinh thông âm luật, biết chơi đàn. Ông có thể vì ta mà chơi một bản đàn sắt được không?” (đàn sắt là một loại nhạc cụ thời cổ đại).

        Triệu vương không biết đây là kế, bèn lấy đàn sắt rồi diễn tấu một bản, mọi người đều vỗ tay tán thưởng. Tần vương lập tức gọi Sử quan nước Tần lại rồi nói: “Ngươi ghi lại vào ngày này tháng này năm này, Tần vương và Triệu vương tương hội ở Miễn Trì, Triệu vương gảy đàn sắt cho Tần vương nghe”.

        Nhưng điều này tương đương với việc coi Triệu vương là một nhạc công, là có ý khinh nhờn nước Triệu. Lúc này các đại thần của nước Triệu bỗng dưng biến đổi sắc mặt.

        Lạn Tương Như bèn lấy một chậu đất nung ở trên bàn, bưng đến trước mặt Tần vương rồi nói: “Tôi nghe nói ngài cũng giỏi âm nhạc nước Tần, thỉnh đại vương gõ phẫu để làm nhịp hát”.

        Tần Chiêu Tương vương biến sắc mà nói: “Quả nhân không biết gõ phẫu để làm nhịp hát”.

        Lạn Tương Như lại tiến về phía trước vài bước rồi nói: “Cho dù nước Tần các người có trăm vạn hùng binh, nhưng nội trong năm bước, tôi có thể lấy ‘bầu nhiệt huyết’ để thấm đẫm lên người đại vương”.

        Ý tứ là “tôi có thể liều mạng đánh ông ngay lúc này”. Khi đó, hộ vệ của Tần vương xông muốn tới bắt Lạn Tương Như lại, Lạn Tương Như giận dựng tóc gáy, trừng mắt hét to một tiếng. Âm thanh chấn động vang như sấm, hộ vệ nước Tần sợ phát khiếp. Tần vương ra lệnh cho hộ vệ thoái lui.

        Đối với nước Tần thì hòa ước này rất quan trọng. Tần vương tuy rằng không vui, nhưng cũng biết bản thân mình là người gây sự trước. Thế là Tần vương đã lấy đũa gõ lên phẫu để tấu nhạc. Lạn Tương Như lập tức xoay người lại nói với Sử quan nước Triệu rằng: “Hãy viết: vào ngày tháng năm này, Triệu vương tương hội với Tần vương ở Miễn Trì, Triệu vương lệnh cho Tần vương gõ phẫu để làm nhịp hát”.

        Một vài đại thần của nước Tần cảm thấy bất bình, có người đứng ra nói: “Thỉnh nước Triệu cắt 15 thành trì để mừng thọ Tần vương”. Lạn Tương Như đáp: “Có qua có lại mới toại lòng nhau, thỉnh nước Tần hãy cắt đô thành Hàm Dương để mừng thọ cho Triệu vương”.

        Tần Chiêu Tương Vương ngắt lời, ông nói: “Thôi đủ rồi, mọi người không cần phải cãi nhau nữa, hôm nay chúng ta chỉ uống rượu thoả thích thôi, hãy bỏ qua chuyện vừa rồi”.

        Thế là mọi người lại tiếp tục bữa tiệc. Tần và Triệu thiết lập hiệp ước hòa bình.

        Vì sao khi đó nước Tần không dám động thủ với nước Triệu? Một là khi đó binh lực của nước Triệu còn rất mạnh. Ngoài ra, nước Tần đang chuẩn bị động binh với nước Sở ở phía Nam nên phải giữ quan hệ hữu hảo với nước Triệu.

        Sau Miễn Trì hội, Tần vương lệnh cho cháu trai của mình đến nước Triệu làm con tin. Người này tên là Dị Nhân, là con trai của thái tử An Quốc Quân. Tần Chiêu Tương vương muốn biểu thị rằng nước Tần sẽ không tấn công nước Triệu nữa, hai bên ký hòa ước làm đồng minh.

        Trong quá khứ, thường là nước yếu đưa con tin đến nước mạnh, hoặc là trao đổi con tin. Nhưng tại Miễn Trì hội lần này, Tần vương lại để cháu trai là Dị Nhân đến nước Triệu làm con tin. Do đó, đây là thắng lợi ngoại giao vô cùng trọng đại của nước Triệu.

        Dị Nhân chính là Tần Trang Tương Vương sau này, còn con trai của ông chính là Tần Thuỷ Hoàng rất nổi tiếng trong lịch sử.

        Triệu vương ở Miễn Trì hội giành được lợi thế, có được thể diện rất lớn, ông nở mày nở mặt mà đem con tin về nước Triệu. Triệu vương thấy công lao của Lạn Tương Như quả thực quá lớn, đã hoàn thành sứ mệnh một cách thành công, thế là ông bái Lạn Tương Như làm Thượng khanh – là tước vị tối cao của quốc gia, trên cả chức của đại tướng quân Liêm Pha.

        Liêm Pha rất không hài lòng, ông nói: “Thần đường đường là một Tướng quân, có công lớn trong việc công thành dã chiến, xuất binh tấn công, ăn gió nằm sương, nguy hiểm thập tử nhất sinh, vì nước Triệu mà khai khẩn biên cương, mở rộng quốc thổ, trong khi Lạn Tương Như chỉ dùng ba tấc lưỡi mà có được chức quan hơn thần”.

        “Nếu có một ngày gặp Lạn Tương Như, thần sẽ cho hắn mất mặt một phen”.

        Lạn Tương Như sau khi nghe những lời đó xong, vì để tránh mặt Liêm Pha nên ông không thiết triều.

        Có một lần, khi Lạn Tương Như đi ra ngoài, thấy xe ngựa của Liêm Pha đang đến, Lạn Tương Như lệnh cho xa phu đánh xe đến con đường sát bên, ông chờ cho Liêm Pha qua trước rồi mới đi tiếp. Vì lẽ đó, Liêm Pha càng ngày càng trở nên kiêu ngạo, cảm thấy Lạn Tương Như không dám đối đầu với mình.

        Môn khách của Lạn Tương Như cảm thấy không còn mặt mũi, nên mới nói rằng: “Chúng tôi từ bỏ gia đình, từ bỏ đất đai đến để nương nhờ ngài là vì điều gì?

        Bởi vì ngài là một đại trượng phu. Hiện tại tước vị của ngài còn cao hơn Liêm Pha, nhưng khi thấy Liêm Pha, ngài không dám đối đầu; trên đường lớn gặp ông ta, ngài giống như chuột thấy mèo mà yếu bóng vía… Chúng tôi quả thực mất mặt quá rồi, chúng tôi sẽ không theo ngài nữa. Chúng tôi đi đây”.

        Lạn Tương Như ngăn họ lại rồi nói: “Các người thấy Liêm tướng quân với Tần vương, ai lợi hại hơn?”.

        Môn khách đáp: “Cũng không cần phải nói, đương nhiên là Tần vương lợi hại hơn”.

        Lạn Tương Như nói: “Đúng thế. Uy thế của Tần vương như vậy, Lạn Tương Như ta đây dám trước điện mà quát mắng ông ta, làm nhục quần thần của ông ta, lẽ nào ta sợ Liêm tướng quân chăng?

        Ta chỉ nghĩ vấn đề như thế này: Nước Tần mạnh vậy, sở dĩ không dám động binh với nước Triệu chỉ vì có hai bọn ta, chính là họ sợ ta và Liêm Pha. Nay hai hổ đấu nhau, ắt có con bị thương, cho nên ta không tranh đấu với ông ấy, chính là: Trước lo cho nguy cấp quốc gia, sau mới nghĩ tư thù, đặt việc công lên trên việc tư”.

        Môn khách nghe xong rất cảm động. Sau đó chuyện này truyền đến chỗ Liêm Pha, tướng quân Liêm Pha cũng rất cảm động: Hóa ra Lạn Tương Như không phải là sợ mình, mà là một con người đại nghĩa, lo cho xã tắc.

        Liêm Pha là con người thẳng thắn, ông có gì nói nấy. Sau khi nghe câu chuyện này, Liêm Pha không nói thêm câu nào, ông cởi trần, đồng thời cột cây roi mây lên lưng. Sau đó ông đến nhà Lạn Tương Như để “xin được trị tội”.

        Lạn Tương Như khi thấy Liêm Pha “vác roi mây trên lưng, xin được trị tội”, ông cũng rất cảm động, bèn đỡ Liêm Pha dậy. Liêm Pha nói: “Con người tôi kiến thức nông cạn thô lậu, không ngờ ngài là một người độ lượng như thế”.

        Thế là hai người nắm tay rồi khóc, kết nghĩa thành “huynh đệ keo sơn, không thể tách rời”.

        Lạn Tương Như ông không chỉ có sức mạnh của ba tấc lưỡi, ông còn có thể lãnh binh đánh trận. Trong “Sử ký – Liêm Pha, Lạn Tương Như liệt truyện” có ghi lại rằng Lạn Tương Như đã từng phái binh công hạ được Bình Ấp của nước Tề.

        Lạn Tương Như là một người trí dũng song toàn, ông dùng trí tuệ và can đảm để “Hoàn bích quy Triệu”, là một người rất dũng cảm.

        Chúng ta còn thấy ông là một người khoan dung đại độ, ông dựa vào khiêm hạ mà được lòng người. Khiêm hạ là một mỹ đức tuyệt vời. Có thể nói: Lạn Tương Như là người ‘biết co biết duỗi’, trước mặt địch nhân thì kiên cường lẫm liệt, còn đối với bạn đồng liêu thì rất khiêm cung.

        Lão Tử từng giảng câu như thế này: “Sông biển sở dĩ là vương của trăm suối nhỏ, bởi vì nó ở chỗ thấp”.

        Tư Mã Thiên có đánh giá Lạn Tương Như như sau: “Khí độ thăng cao, có uy vọng, tín nghĩa và danh dự với địch quốc, khi về lại nhún nhường với Liêm Pha, do đó danh vọng nặng như núi Thái Sơn”.

        Lúc này sự hùng mạnh của nước Triệu đủ để đối kháng với nước Tần. Nếu sáu nước vẫn có thể liên hợp thì nước Tần không tài nào thống nhất thiên hạ. Chính lúc nước Triệu càng ngày càng mạnh, có một người rời nước Nguỵ. Ông ấy không chỉ chế định chiến lược thống nhất thiên hạ, mà còn xúc tiến chiến lược quyết định trong trận chiến giữa Tần và Triệu. Vậy thì người đó là ai và có sách lược gì? Chúng tôi sẽ kể tiếp trong phần tiếp theo. Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, xin chào tạm biệt và hẹn gặp lại.

        https://www.youtube.com/watch?v=FIxpXMP-Ej8

        0 Comments
    • Công khai
    • Tất cả thành viên
    • Kết nối của tôi
    • Chỉ mình tôi
    • Công khai
    • Tất cả thành viên
    • Kết nối của tôi
    • Chỉ mình tôi
    • Công khai
    • Tất cả thành viên
    • Kết nối của tôi
    • Chỉ mình tôi

    Chào mừng bạn đến với MindSpaceVN!

    Đây là không gian yên tĩnh, hiện đại, nơi mỗi bài viết đều mang giá trị – dù là một suy nghĩ sâu sắc, một trải nghiệm ý nghĩa hay một góc nhìn khác biệt.

    Hãy mạnh dạn chia sẻ, tương tác, và kết nối với những người cùng chí hướng. Mỗi lượt like, mỗi bình luận chân thành, hay một bài viết chất lượng từ bạn – đều là món quà cho cộng đồng.

    Cảm ơn bạn đã góp phần tạo nên một MindSpaceVN khác biệt. Chúng tôi trân trọng sự hiện diện của bạn tại đây.

    © 2026 - My Blog

    Report

    There was a problem reporting this post.

    Harassment or bullying behavior
    Contains mature or sensitive content
    Contains misleading or false information
    Contains abusive or derogatory content
    Contains spam, fake content or potential malware

    Block Member?

    Please confirm you want to block this member.

    You will no longer be able to:

    • Xem bài viết của thành viên bị chặn.
    • Đề cập đến thành viên này trong các bài viết
    • Mời thành viên này vào nhóm
    • Nhắn tin cho thành viên này
    • Thêm thành viên này vào danh bạ

    Please note: This action will also remove this member from your connections and send a report to the site admin. Vui lòng chờ vài phút để quá trình này hoàn tất.

    Report

    You have already reported this .