-
Thiên Phong đã đăng bài trong nhóm
một năm trước
Ngược Dòng // Lịch Sử Xuân thu Chiến quốc (88) Tại sao các đại biểu của Pháp gia đều có kết cục bi thảm
Trong Chiến Quốc Thất Hùng, Hàn là nước nhỏ yếu nhất. Nước Hàn nằm cạnh nước Tần. Nước Hàn trong 200 năm thời Chiến Quốc, hầu như không đánh thắng trận nào, mỗi lần chiến trận đều thua, quốc thổ càng ngày càng nhỏ. Đợi đến khi Tần vương muốn diệt nước Hàn, nước Hàn đã nhỏ yếu đến độ như thế rồi, trên cơ bản không có khả năng chống cự nên đành phải đầu hàng.
Trước khi nước Hàn đầu hàng còn có một sự việc, chính là vào năm 238 TCN, Hàn Vương An kế vị, đây là vị quân chủ cuối cùng của nước Hàn. Hàn Vương An có một tôn thất tên là Hàn Phi. Hàn Phi chính là Hàn Phi Tử – ông là nhân vật đại biểu rất nổi tiếng của Pháp gia.
Hàn Phi Tử có một tật là tật nói lắp. Theo “Hàn Phi Tử liệt truyện” ghi lại: ‘Phi là người có tật nói lắp, không thể nói lưu loát, nhưng giỏi đọc sách học tập’. Do đó, ông viết rất nhiều sách như là “Thuyết nan”, “Cô phẫn”, “Ngũ đố”… Những cuốn sách này đã truyền đến nước Tần.
Tần vương sau khi xem những cuốn sách này thì rất muốn gặp Hàn Phi Tử, hy vọng có thể kết giao với Hàn Phi Tử. Sau này, Hàn Phi Tử đi sứ đến nước Tần, tiếp sau đó phát sinh rất nhiều sự việc. Trong “Sử ký” và “Tư trị thông giám” viết không rõ ràng. Hàn Phi Tử đến nước Tần không lâu liền bị Tần vương giam vào ngục. Chúng ta không rõ Hàn Phi Tử vì sao lại bị giam vào ngục.
Có một cách nói cho rằng vì Lý Tư nói Hàn Phi Tử là dòng dõi tôn thất của nước Hàn, cho nên Hàn Phi Tử sẽ không thật sự cống hiến vì nước Tần. Tần vương tin lời Lý Tư, bèn giam Hàn Phi Tử vào ngục. Lý Tư lại đưa thuốc độc cho Hàn Phi Tử, Hàn Phi Tử uống thuốc độc mà chết.
Hàn Phi Tử và Lý Tư là bạn học, thầy của họ là Tuân Tử. Khi hai người họ học cùng nhau, Lý Tư cho rằng mình không bằng Hàn Phi Tử, sợ Hàn Phi Tử ở trước mặt Tần vương mà được sủng ái, sẽ phân chia quyền lực với mình, cho nên đầu độc Hàn Phi Tử.
Phân tích này cũng hoàn toàn có lý, bởi vì như đã nói ở bài trước, triết lý nhân sinh của Lý Tư là “Triết học của loài chuột”. Khi ông thấy chuột trong nhà vệ sinh thì gầy, chuột trong kho thóc thì lớn, thế là Lý Tư nhất quyết muốn mưu cầu phú quý trong đời. Khi ông cáo biệt với thầy mình là Tuân Tử, Lý Tư cũng đã nói ra chí hướng này.
Nếu quả thật như vậy, thì Lý Tư sẽ làm gì khi gặp Hàn Phi Tử, là người tài năng hơn mình. Vì để giữ quyền lực của mình, Lý Tư rất có thể đã hại chết Hàn Phi tử. Và sau này cũng vậy, ông cũng vì quyền lực mà cấu kết với Triệu Cao, làm hại nước Tần. Lý Tư chính là người có tài mà không có đức. Ông không vì sự ấm no của bách tính trăm họ, mà chỉ muốn giữ quyền lực và địa vị của mình.
Sau này khi Tần Thủy Hoàng mất, Lý Tư đã chế định luật Pháp mới, tăng mạnh độ hà khắc của luật Pháp nước Tần, ông áp bức lên cả quan lại bên dưới và những người dân, dẫn đến việc nông dân nổi dậy chống Tần. Đó là cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử, là khởi nghĩa của Trần Thắng và Ngô Quảng. Vậy nên, luật pháp trong mắt của Lý Tư chỉ là do ông đặt ra để duy trì quyền lực của mình mà thôi.
Chúng ta thấy rằng: những nhân vật đại biểu của Pháp gia đều không có cái chết yên ổn. Tại sao lại như vậy?
Thương Ưởng, Lý Tư, Hàn Phi Tử là ba nhân vật đại biểu nổi tiếng nhất của Pháp gia. Thương Ưởng bị tứ mã phanh thây, Lý Tư bị chém ngang lưng, Hàn Phi Tử bị trúng độc, chết trẻ trong nhà ngục.
Trong Pháp gia, Thương Ưởng là người ‘đầu têu thói xấu’, còn Hàn Phi Tử là người gom góp lại tư tưởng của Pháp gia. Pháp gia chủ trương không cho lão bách tính tự do ngôn luận, gọi là ‘đầu tiên là cấm tư tưởng, kế đến là cấm ngôn luận, tiếp đến là cấm làm việc’. Hơn nữa Pháp gia chủ trương chính sách ngu dân.
Các bạn đừng nhầm lẫn Pháp gia là pháp luật. Thực ra nó là một biến thể của pháp luật, được tạo ra để duy trì và mở rộng quyền lực của giai cấp thống trị. Nó không phải là pháp luật được tạo ra vì người dân.
Hàn Phi Tử viết: “Quốc gia của minh chủ, không lấy văn thư trong sách vở, mà lấy hình pháp để giáo hoá. Nếu không có lời của tiên vương, thì lấy lời quan lại làm chỉ đạo’. Pháp gia miệt thị hết thảy văn hoá truyền lại từ cổ chí kim, giá trị quan đạo đức, Pháp gia theo Thuyết vô Thần.
Pháp gia đem quan hệ vua – dân làm thành mối quan hệ đối địch, cho nên họ nghĩ mọi cách để lão bách tính trở nên bần cùng, biến thành nhỏ yếu, ngu muội, gian dối, giảo hoạt… Do đó, Pháp gia thi hành chính sách ngu dân, hết thảy cách làm thực sự rất giống Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Khi tôi đọc sử, xem đến cách làm này của Pháp gia, bao gồm cả lý luận của họ, tôi cảm thấy thảo nào ĐCSTQ thích Pháp gia đến như vậy. Bởi vì suy nghĩ của ĐCSTQ giống Pháp gia như đúc, chỉ bất quá ĐCSTQ hiểm ác và cực đoan hơn Pháp gia mà thôi.
Có người nói: Pháp gia giảng pháp luật, chẳng phải rất tốt hay sao? Có pháp luật thì người dân sẽ ngoan hơn, chẳng phải nên vậy sao.
Không phải, bởi vì pháp luật mà Pháp gia giảng không phải pháp luật như người hiện đại chúng ta nghĩ. Mà nó là một loại pháp luật tàn ác hà khắc, được tạo ra để duy trì quyền lực của giai cấp thống trị.
Xã hội hiện đại khi chế định pháp luật có một nguyên tắc, nguyên tắc này đều viết trong hiến pháp của các nước. Nguyên tắc chế định hiến pháp nên xuất phát từ hệ thống tín ngưỡng hoặc hệ thống đạo đức. Theo nghiên cứu của các pháp luật gia phương tây, pháp luật của phương tây có quan hệ với 10 điều răn của Thượng Đế cho Moses ở núi Sinai.
Trong 10 điều răn, có nói không được sát sinh, từ đó phái sinh ra một bộ hệ thống hình pháp.
Trong 10 điều răn, có nói không được gian dâm, từ đó phái sinh ra một bộ hệ thống về hôn nhân.
Trong 10 điều răn, có nói không được tham luyến tài vật của người khác, từ đó phái sinh ra một bộ hệ thống về luật tài sản.
Toàn thể hệ thống pháp luật ở phương tây, kỳ thực đến từ 10 điều răn của Thượng Đế cho Moses, đây là quan điểm của pháp luật gia phương tây.
Còn pháp luật của Trung Quốc, trong quá khứ gọi là “Xuân Thu quyết ngục”, chính là chiểu theo kinh điển của Nho gia, dựa theo tiêu chuẩn đạo đức kiến lập từ thời Xuân Thu mà xét xử vụ án. Mục đích cuối cùng của pháp luật là duy trì Công bình và Chính nghĩa trong xã hội.
Nhưng Pháp gia lại khác, Pháp gia khi chế định pháp luật, mục đích của họ không phải vì công bằng chính nghĩa của xã hội, mà là pháp luật chống lại công bình và chính nghĩa, gọi đây là ‘ác pháp’. Chiểu theo pháp luật học ngày nay mà giảng, ‘ác pháp’ không phải là pháp luật. Là một công dân, là một người có lý tính có đạo đức, họ không cần có nghĩa vụ phải tuân theo ác pháp, mà còn phải phế trừ loại pháp luật như vậy.
Cũng có một loại ác pháp trong thời hiện đại, chính là luật cho phép phân biệt chủng tộc.
Trong thập niên cuối của thế kỷ 19 ở Hoa Kỳ, các luật lệ kỳ thị và các cuộc bạo hành chủng tộc nhắm vào người Mỹ gốc Phi bắt đầu nở rộ. Giới cầm quyền được bầu cử bởi công dân da trắng đã bắt đầu sự ban hành các biện pháp kỳ thị người da đen. Có bốn đạo luật kỳ thị hoặc cho phép kỳ thị chống lại người Mỹ gốc Phi được tán thành bởi phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ – cho phép chính quyền địa phương áp chế hoặc tước bỏ quyền bầu cử của người da đen tại các tiểu bang, khước từ các quyền của người da đen, công nhận việc phân biệt đối xử với người da đen tại các cơ sở giáo dục công lập, bệnh viện, giao thông và tuyển dụng việc làm, bao che các hành vi bạo lực cá nhân hay tập thể nhắm vào người da đen.
“Đạo luật Jim Crow” công khai xác nhận sự phân biệt chủng tộc ở các trường công, cấm hoặc hạn chế người da đen vào nhiều khu vực công cộng như quán ăn, trường học, công viên và khách sạn; phủ nhận quyền của phần lớn người da đen được đi bầu cử bằng việc đánh các loại thuế thân và thực hiện các cuộc kiểm tra tình trạng biết đọc biết viết một cách tùy tiện. Cho tới đầu thập niên 1960, người da đen ở Mỹ vẫn tiếp tục phải chịu đựng các luật lệ này.
Đây là một ví dụ của ác pháp. Nó được ghi trong pháp luật, nhưng nó lại là pháp luật tà ác. Là một công dân, là một người có lý tính có đạo đức, họ không cần có nghĩa vụ phải tuân theo ác pháp, mà còn phải phế trừ loại pháp luật như vậy.
Ở Mỹ có một người tên là Martin Luther King, khi đó ông dẫn dắt cuộc vận động nhân quyền để trừ bỏ “Luật phân biệt chủng tộc”. Ông dẫn đầu đoàn người biểu tình, nhưng lại không hề dùng bạo lực. Với bài diễn văn của mình, ông đã làm cảm động người Mỹ, và cuối cùng người Mỹ đã phế trừ những đạo luật cho phép phân biệt chủng tộc đó.
Nói về Pháp luật do Thương Ưởng chế định, đây là ác pháp điển hình. Ví như nói ông ta chế định luật cáo buộc hiếp dâm, luật tội liên đới, luật khuyến khích sát nhân… Những luật đó đều thuộc về ác pháp rất điển hình. Thương Ưởng ở Vị Thuỷ, ông tự mình kiểm tra tù nhân, rồi giết người lập uy, một ngày giết hơn 700 người, sông Vị Thuỷ đỏ nước, tiếng khóc ai oán khắp nơi.
Pháp gia giảng ba phương diện: Gồm có Pháp, Thuật và Thế. Pháp chính là ác pháp. Vậy thì Thuật là gì? Thuật so với Pháp còn ác liệt hơn. Thuật chính là Âm mưu. Học thuyết của Pháp gia có thể nói là liên quan đến học vấn Âm mưu. Hàn Phi Tử viết rất nhiều sách, chúng đều là âm mưu ‘muôn phần kỳ quái’, người ta căn bản không thể tưởng tượng nổi.
Trong “Sử ký” ngẫu nhiên cũng có ghi chép những điều Hàn Phi Tử viết liên quan đến âm mưu. Đây là nói về Pháp và Thuật. Hàn Phi Tử giảng: ‘Pháp là biên soạn sách vở, đặt trong phủ quan, dành cho bách tính. Thuật là cất giấu trong lòng, tư tưởng ẩn trong quần thần. Do đó, Pháp để cho người thấy, Thuật không để người thấy’.
Ý nghĩa là nói: Pháp luật phải công bố, để cho mọi người biết, có quy định 1 2 3 4; Còn Thuật là Âm mưu, âm mưu chỉ có thể để trong lòng; do đó ‘Pháp sáng Thuật tối’, ‘Pháp hiển Thuật tàng’.
Hàn Phi Tử giảng âm mưu, thuận theo một vài ghi chép trong điển tịch lưu truyền ở Trung Quốc, những loại âm mưu này ở Trung Quốc cổ đại chỉ được sử dụng trong phạm vi nhỏ, cá biệt một số người. Nhưng ĐCSTQ lại tuyên truyền những thứ như thế trên TV, cứ như cổ nhân đều là âm mưu gia, mỗi ngày đang suy nghĩ hại người.
Vậy còn ‘Thế’ của Pháp gia là gì? ‘Thế’ chính là quyền uy của quân chủ. Quân chủ phải đảm bảo được uy quyền của mình. Loại quyền uy này là do quyền lực mang đến, là một loại lực lượng khiến con người sợ hãi phục tùng. Quyền uy này giống như hổ, chỉ cần có nanh vuốt, mọi người sẽ sợ bạn, dựa vào lực uy hiếp này để bảo trì quyền lực của quân chủ.
Pháp gia nhấn mạnh ba phương diện là Pháp, Thuật và Thế. Pháp chính là ác pháp, Thuật chính là Âm mưu, Thế chính là Độc tài. Pháp gia muốn quân chủ lấy thủ đoạn tàn khốc và hung ác để đối đãi với quần thần và bách tính, đây là học thuyết khá tà ác.
Hàn Phi Tử là người góp nhặt các tư tưởng của Pháp gia, ông bị một đại biểu khác của Pháp gia là Lý Tư hãm hại, bị trúng độc mà chết. Ba năm sau, tức là năm 230 TCN, nước Hàn diệt vong. Lại qua thêm hai năm, nước Tần diệt nước Triệu, Triệu vương bị bắt làm tù binh, công tử Triệu Gia lập ra nước Đại. Năm thứ 2 sau khi Triệu vương bị bắt làm tù binh, đã phát sinh sự kiện ‘Kinh Kha hành thích Tần vương’.
Cảm ơn bạn đã theo dõi video này, hẹn gặp lại bạn trong những tập tiếp theo.